Tìm trên trang KT-XH
Tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020, nhiệm vụ, kế hoạch năm 2021
 04/01/2021 9:18:AM

Phần I:

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH

PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2020

 

Thực hiện Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐND ngày 17/12/2019 của HĐND huyện về nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2020, UBND huyện đã ban hành Quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 02/01/2020 về việc triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020, các ban ngành cấp huyện, các địa phương đã có nhiều nỗ lực trong việc tổ chức thực hiện bằng các kế hoạch, chương trình hành động cụ thể và triển khai ngay từ đầu năm để tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội; kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu cụ thể như sau:

 

TT

Chỉ tiêu

KH 2020

Thực hiện 2020

Tỷ lệ % so với KH

1

Thu ngân sách NN tại địa phương (tỷ đồng)

251,810

271,030

108,0

Thu cân đối ngân sách (tỷ đồng)

250,310

269,530

108,0

2

Chi ngân sách Nhà nước trên địa bàn (tỷ đồng)

563,494

806,183

143,0

3

Thu nhập bình quân đầu người (tr.đồng)

60

57

95,0

4

Tổng đầu tư toàn xã hội (tỷ đồng)

7.500

6.900

92,0

5

Tổng diện tích gieo trồng lúa (ha)

6.700

6.618

98,8

6

Sản lượng lương thực có hạt (1.000 tấn)

41,250

40,659

98,6

7

Sản lượng nuôi trồng và đánh bắt thủy sản (tấn)

10.520

11.586

110,1

 

Trong đó: Sản lượng nuôi trồng (tấn)

3.000

3.843

128,1

                 Sản lượng đánh bắt thủy sản (tấn)

7.520

7.743

103,0

8

Lượt khách du lịch (nghìn lượt)

1.415

738,9

52,2

9

Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ XH (tỷ đồng)

5.089

4.800

94,3

10

Tỷ lệ hộ nghèo (%)

4,1

4,1

Đạt

11

Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng (%)

6,7

6,7

Đạt

12

Tạo việc làm mới bình quân hàng năm (người)

2.000

2.000

100,0

13

Tỷ lệ lao động được đào tạo (%)

60,0

65,0

Vượt

14

Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch (%)

90,0

96,2

Vượt

15

Số xã đạt chuẩn Nông thôn mới (xã)

Tăng 1-2

2

100,0

16

Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân (%)

≥ 96,0

96,0

Đạt

17

Số người tham gia bảo hiểm xã hội và thất nghiệp:

 

 

Đạt

 

- Bảo hiểm xã hội bắt buộc đạt trên (%);

- Bảo hiểm xã hội tự nguyện (người);

- Bảo hiểm thất nghiệp đạt trên (%).

94,0

830

94,0

94,0

830

94,0

 

I. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

1. Về phát triển kinh tế:

a) Lĩnh vực dịch vụ:

- Dịch vụ du lịch: Trong năm qua, do tình hình dịch bệnh Covid-19 bùng phát, ngày càng diễn biến rất phức tạp trên phạm vi cả nước và thế giới, gây ảnh hưởng lớn đến tình hình kinh tế - xã hội, đặc biệt là dịch vụ du lịch. Việc thực hiện các biện pháp cách ly, giãn cách xã hội làm cho lượng khách du lịch giảm mạnh, nhiều tour chuyến bị hủy bỏ; các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch ngừng hoạt động, nhiều cơ sở kinh doanh không đón được khách trong thời gian dài. Tổng lượt khách du lịch đạt khoảng 738.900 lượt, đạt 52,2% kế hoạch và bằng 56,9% cùng kỳ; trong đó, khách quốc tế 28.600 lượt, khách nội địa 710.800 lượt. Tổng lượng khách lưu trú 211.700 lượt, bằng 44,3% cùng kỳ; trong đó, khách quốc tế 17.400 lượt, khách nội địa 194.300 lượt khách. Doanh thu dịch vụ du lịch khoảng 712,5 tỷ đồng, đạt 50,2% kế hoạch, bằng 51,0% so cùng kỳ.

- Dịch vụ thương mại bình ổn, hoạt động lưu thông hàng hoá đáp ứng tốt nhu cầu đời sống của người dân trên địa bàn; mặc dù có hiện tượng người dân mua sắm, tích trữ lương thực, thực phẩm thiết yếu với số lượng lớn để sử dụng trong thời gian xảy ra dịch bệnh; tuy nhiên, với nguồn hàng hóa phong phú, đa dạng, đã đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân. Qua kiểm tra nắm bắt thị trường, giá cả các mặt hàng thiết yếu tại các chợ luôn ổn định, không có biến động mạnh, không có biểu hiện đầu cơ, găm hàng, tăng giá, ép giá. Tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt khoảng 4.800 tỷ đồng, đạt 94,3% kế hoạch năm và bằng 110% so với cùng kỳ.

- Các ngành dịch vụ khác: Dịch vụ vận tải do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên nhiều doanh nghiệp kinh doanh vận tải đã tạm ngừng hoạt động trong thời gian dài. Tổng doanh thu dịch vụ vận tải trong năm khoảng 5.078 tỷ đồng, đạt 90,0% kế hoạch; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt khoảng 93% kế hoạch, lượng hành khách luân chuyển đạt khoảng 90% kế hoạch. Các loại hình dịch vụ bảo hiểm, ngân hàng phát triển đa dạng, phong phú về loại hình và dịch vụ cung cấp, đáp ứng đầy đủ nhu cầu vay vốn, tín dụng, thanh khoản của nhân dân và các thành phần kinh tế.

b) Lĩnh vực công nghiệp: Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp khoảng 3.095 tỷ đồng, đạt 92,2% kế hoạch, bằng 105% so với cùng kỳ; trong đó, công nghiệp 2.398 tỷ đồng, TTCN 697 tỷ đồng.

Ngành công nghiệp đã có nhiều đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế; đã tổ chức các lớp tập huấn, hướng dẫn trang bị kỹ năng tiếp cận các phương thức sản xuất mang lại hiệu quả cao; khuyến khích, đẩy mạnh phát triển các ngành nghề có tiềm năng thế mạnh như chế biến nông lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng; công nghiệp gia công, in ấn bao bì, sản xuất cơ khí, điện tử, may mặc... Đẩy mạnh phát triển các ngành nghề phụ trợ tại khu công nghiệp, nhằm giải quyết việc làm tăng thu nhập cho người dân thông qua chương trình khuyến công, hỗ trợ mua sắm máy móc, trang thiết bị, tìm kiếm thị trường đầu ra.

Hoạt động khuyến công và xúc tiến thương mại tiếp tục được quan tâm thực hiện. Đã phối hợp với Trung tâm Khuyến công và xúc tiến thương mại của Sở Công thương triển khai thực hiện đề án: “Ứng dụng hệ thống máy móc tiên tiến vào sản xuất để nâng cao năng lực sản xuất sản phẩm rượu vang vả Bạch Mã” của Công ty TNHH TMDV Lộc Mai. Thực hiện chương trình khuyến công địa phương, đã tổ chức đào tạo khoảng 30 lao động cho các cơ sở, doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng lao động; hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị và chuyển giao công nghệ cho 03 cơ sở công nghiệp nông thôn; hỗ trợ trên 20 lượt cơ sở công nghiệp nông thôn tham gia hội chợ triển lãm trong và ngoài tỉnh; hỗ trợ 02 đơn vị phát triển mẫu mã hàng lưu niệm, quà tặng mang biểu tượng, đặc trưng tại các điểm du lịch của huyện.

c) Lĩnh vực nông nghiệp:

- Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm 8.618,8 ha, đạt 95,7% kế hoạch và bằng 105,9% so cùng kỳ; sản lượng lương thực có hạt là 40.659 tấn, đạt 98,6% kế hoạch và bằng 106,1% so cùng kỳ.

Tổng kết sản xuất nông nghiệp đạt nhiều kết quả cao, diện tích gieo trồng Lúa 6.618,3 ha (vụ Đông Xuân 3.818 ha, vụ Hè Thu 2.800,3 ha), đạt 98,7% so với kế hoạch và bằng 105,9% so cùng kỳ; các cây trồng khác 2.000,5 ha[1]. Năng suất lúa cả năm đạt 61 tạ/ha, đạt kế hoạch và tăng 2,7 tạ/ha so với cùng kỳ (Đông Xuân 61,7 tạ/ha, Hè Thu 60 tạ/ha); sản lượng thóc 40.649 tấn[2]. Về cơ cấu giống đưa vào sản xuất có sự thay đổi lớn, đã đưa vào gieo cấy giống lúa có năng suất, chất lượng cao như ĐT100 1.300 ha, Khang dân 1.200 ha, HN6 300 ha, Thiên Ưu 8 200 ha… đây là các giống mới có khả năng thâm canh cao, kháng sâu bệnh, chống đỗ ngã tốt, tạo điều kiện thuận lợi để bà con nông dân đầu tư thâm canh tăng năng suất, nhờ vậy năng suất lúa đạt cao.

Tổ chức thực hiện các đề án gồm: Đề án Cánh đồng mẫu, với diện tích 430 ha, ở 10 HTX, kết quả đánh giá năng suất bình quân đạt 69 tạ/ha, cao hơn 7 tạ/ha so với lúa sản xuất đại trà; Đề án cải tạo, nhân rộng bưởi da xanh, đã trồng mới 17,5 ha bưởi da xanh, xây dựng vườn mẫu 5,5 ha (Lộc Bổn 03 ha, Xuân Lộc 2,5 ha). Tổ chức thí điểm mô hình sản xuất lạc hữu cơ ở HTX Mỹ Hải, đã gieo trồng 2,89 ha/65 hộ; rau hữu cơ 0,8 ha ở xã Vinh Mỹ; lúa hữu cơ 5 ha ở HTX Đại Thành đã thu hoạch và năng suất đạt khoảng 90% so với sản xuất thông thường.

- Chăn nuôi: Duy trì tổng đàn trâu khoảng 4.248 con, bò 3.438 con, gia cầm 531.080 con, đàn lợn 16.236 con, dê 1.225 con. Chỉ đạo, hướng dẫn biện pháp phòng chống dịch bệnh, chăm sóc cho đàn gia súc, gia cầm, tiêu độc khử trùng, vệ sinh chuồng trại; tổ chức tiêm phòng đàn gia súc gia cầm theo kế hoạch[3].

- Lâm nghiệp: Tổ chức trồng lại rừng sản xuất sau khi thu hoạch, hướng dẫn các chủ rừng phát quang đường ranh, xử lý thực bì đúng quy định. Tăng cường kiểm tra để ngăn chặn và xử lý các vi phạm về pháp luật bảo vệ rừng, không để xảy ra cháy rừng.

- Thủy sản: Tổ chức hướng dẫn bà con cải tạo ao hồ, chuẩn bị các điều kiện nuôi trồng đảm bảo lịch thời vụ. Đến nay, đã thả nuôi 1.312 ha, trong đó: nuôi nước lợ 1.002 ha[4], nuôi nước ngọt 310 ha, nuôi cá lồng 3.922 lồng (nước lợ 3.650 lồng, nước ngọt 272 lồng), nuôi bể xi măng 21.000m3. Sản lượng nuôi trồng khoảng 3.843 tấn, đạt 128% kế hoạch, trong đó: tôm 960 tấn, cua cá các loại 2.483 tấn, nhuyễn thể 400 tấn. Lĩnh vực đánh bắt thủy hải sản tiếp tục phát triển; sản lượng khai thác tự nhiên khoảng 7.743 tấn, đạt 103 kế hoạch năm (trong đó đánh bắt biển 5.671 tấn, sông đầm 2.072 tấn).

Thực hiện dự án VIE/433, đã hoàn thành dự án cắm bổ sung 27 cột mốc, 03 trộ chuôm ở 03 khu bảo vệ thủy sản (khu Đá Miếu, khu Đá Dầm xã Lộc Điền, khu Hòn Voi - Vũng Đèo xã Lộc Trì), với kinh phí 155 triệu đồng; dự án cắm 38 cột mốc khoanh vùng khu nuôi cá lồng cho 03 chi hội nghề cá đầm phá (chi hội Nuôi cá lồng Vinh Hiền, chi hội Nuôi trồng thủy sản Vinh Hiền, chi hội Lộc Bình 2), với kinh phí 150 triệu đồng.

- Kinh tế hợp tác xã, xây dựng nông thôn mới: Chỉ đạo các HTX xây dựng, sửa chữa các công trình đê, đập thủy lợi, xây dựng phương án phòng chống hạn năm 2020. Xây dựng kế hoạch thực hiện dự án hỗ trợ phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị năm 2020; xét duyệt sản phẩm OCOP năm 2019 (mắm nêm cá cơm Mệ Em, nước mắm cá cơm Xuân Anh và sản phẩm Dầu tràm Trường Hải), để giải ngân kịp tiến độ; xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện nâng cấp 02 sản phẩm OCOP năm 2020 (dự án hoàn thiện và nâng cấp tiêu chuẩn hóa sản phẩm Dầu tràm Nhật Tân và Cá khô Mỹ Á). UBND tỉnh đã có quyết định công nhận xã Vinh Mỹ, Lộc Hòa đạt chuẩn nông thôn mới năm 2019; tính đến nay, đã có 8/14 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 57,1%.

2. Tình hình đầu tư phát triển, giải phóng mặt bằng:

Về đầu tư phát triển: Tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 6.900 tỷ đồng, đạt 92% kế hoạch. Quản lý đầu tư xây dựng được tập trung chỉ đạo và thực hiện theo quy định của Luật Đầu tư công, Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020; đã chủ động trong công tác quản lý, thanh toán và đảm bảo nguồn vốn đầu tư cho các dự án có trong kế hoạch; đã rà soát xây dựng kế hoạch trung hạn giai đoạn 2021-2025 đảm bảo theo Chỉ thị số 20/CT-UBND ngày 14 tháng 11 năm 2019 của UBND tỉnh.

Tình hình thực hiện các nguồn vốn đầu tư như sau: Các công trình thuộc nguồn vốn tỉnh: Bố trí 59,863 tỷ đồng, được phân bổ đầu tư 14 công trình; trong đó có 12 công trình chuyển tiếp và 02 công trình xây dựng mới (đã thu hồi vốn công trình xây dựng mới Trụ sở Huyện ủy). Các công trình thuộc nguồn vốn huyện: Bố trí 71,492 tỷ đồng, phân bổ thanh toán cho 39 công trình đã phê duyệt quyết toán vốn đầu tư, 87 công trình chuyển tiếp và 39 công trình xây dựng mới. Các nguồn vốn mục tiêu Quốc gia, vốn xổ số kiến thiết của tỉnh bố trí 31,147 tỷ đồng, phân bổ đầu tư cụ thể như sau: Chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới, bố trí 21,817 tỷ đồng, phân bổ đầu tư 16 công trình chuyển tiếp, 09 công trình xây dựng mới. Chương trình 30a, bố trí 8,09 tỷ đồng, được phân bổ đầu tư cho 11 công trình xây dựng mới (bổ sung thêm 06 công trình thuộc nguồn dự phòng của Chương trình). Chương trình 135, bố trí 0,39 tỷ đồng, được phân bổ đầu tư cho 02 công trình chuyển tiếp, 01 công trình xây dựng mới. Vốn xổ số kiến thiết của tỉnh hỗ trợ duy tu, bảo dưỡng, bố trí 0,85 tỷ đồng, được phân bổ đầu tư cho 03 công trình xây dựng mới.

Ngay từ đầu năm, UBND huyện đã chỉ đạo các chủ đầu tư chuẩn bị tốt thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản nên hầu hết các công trình, dự án đã triển khai đúng tiến độ. Nhờ vậy năm 2020, hầu hết các nguồn vốn được bố trí đã được giải ngân đạt 100% kế hoạch.

Về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư: Trong năm tiếp tục thực hiện các công trình chuyển tiếp của năm trước và triển khai thực hiện các công trình, dự án mới. Đã thực hiện 18 dự án, trong đó có 08 dự án mới, 10 dự án chuyển tiếp; tổ chức họp dân, đối thoại giải quyết các vướng mắc và chi trả bồi thường theo khối lượng đã phê duyệt. Nhìn chung tiến độ công tác GPMB các dự án đảm bảo yêu cầu, kế hoạch của nhà đầu tư.

3. Thu, chi ngân sách:

Thu ngân sách nhà nước tại địa phương ước đạt 271,030 tỷ đồng, đạt 108% kế hoạch, bằng 98% so với cùng kỳ; trong đó, các khoản thu do huyện quản lý thu 196,830 tỷ đồng, đạt 99,5% kế hoạch, các khoản thu Cục Thuế trực tiếp quản lý thu 74,20 tỷ đồng, đạt 137,4% kế hoạch.

Công tác quản lý chi ngân sách đảm bảo đúng kế hoạch và phục vụ kịp thời các hoạt động của các ngành, các cấp cũng như đầu tư xây dựng cơ bản. Kho bạc Nhà nước huyện thường xuyên thực hiện công tác kiểm soát chi đảm bảo đúng quy định, tiết kiệm và tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải ngân. Tổng chi ngân sách địa phương ước 806,183 tỷ đồng, đạt 143% kế hoạch; bằng 106% so với cùng kỳ.

4. Quy hoạch, quản lý tài nguyên môi trường và trật tự xây dựng:

- Công tác quy hoạch: Tập trung thực hiện hoàn thành các đồ án quy hoạch xây dựng chuyển tiếp năm 2019 và triển khai thực hiện các đồ án quy hoạch theo kế hoạch năm 2020; tiến độ cụ thể như sau:

Các đồ án quy hoạch chuyển tiếp: Đã rà soát hồ sơ, điều chỉnh các tuyến đường để tổ chức công bố Quy hoạch mạng lưới giao thông huyện Phú Lộc đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030; điều chỉnh quy hoạch xây dựng Nông thôn mới các xã Xuân Lộc, Lộc Hòa, Vinh Mỹ; quy hoạch xây dựng Nông thôn mới xã Giang Hải; tiếp tục thực hiện quy hoạch chi tiết trục vành đai đô thị mới La Sơn.

Các đồ án quy hoạch mới: Quy hoạch chi tiết đô thị khu dân cư dọc hai bên đường giao thông trục chính đô thị mới La Sơn, đang lập nhiệm vụ quy hoạch chi tiết đô thị và tổ chức thẩm định theo kế hoạch. Đồ án điều chỉnh quy hoạch chung thị trấn Phú Lộc, đến nay đơn vị tư vấn đã hoàn thành phương án tổng thể điều chỉnh quy hoạch bao gồm cả phần diện tích mở rộng quy hoạch; rà soát, cập nhật điều chỉnh hiện trạng sử dụng đất và một số nội dung khác theo Nhiệm vụ điều chỉnh quy hoạch đã được phê duyệt. Lập đề cương nhiệm vụ Quy hoạch phân khu Khu đô thị sinh thái và nghỉ dưỡng ven biển tại xã Giang Hải và Vinh Hiền, đến nay, nhiệm vụ quy hoạch cơ bản được đơn vị tư vấn hoàn thành, tổ chức lấy ý kiến cộng đồng dân cư xã Giang Hải và xã Vinh Hiền trước khi trình thẩm định nhiệm vụ quy hoạch.

- Quản lý đất đai, tài nguyên môi trường:

Từ đầu năm đến nay, đã cấp 425 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân với diện tích 52,35 ha, nâng tổng số diện tích được cấp Giấy CNQSD đất các loại là 21.647,82 ha, đạt tỷ lệ 98,77% so với tổng diện tích đất cần cấp, trong đó các loại đất đã cấp từ đầu năm đến nay gồm: Đất sản xuất nông nghiệp 194 giấy, diện tích 29,24 ha; đất lâm nghiệp 05 giấy, diện tích 5,93 ha; đất nuôi trồng thủy sản 13 giấy, diện tích 4,54 ha; đất ở đô thị 27 giấy, diện tích 1,16 ha; đất ở nông thôn 184 giấy, diện tích 11,4 ha; đất tín ngưỡng 02 giấy, diện tích 0,08 ha.

Tiếp tục thực hiện tốt Đề án thu gom và vận chuyển rác thải, cơ bản giải quyết tình trạng rác thải tồn đọng tại các chợ và khu đông dân cư. Trong năm, đã thu gom và vận chuyển về nơi xử lý rác, với khối lượng 14.318,5 tấn; tỷ lệ số thôn, tổ dân phố được thu gom rác thải đạt 100%; số hộ tham gia dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt là 26.470 hộ, đạt tỷ lệ 75%. Tích cực thực hiện phong trào “ngày Chủ nhật xanh”, vệ sinh đường làng, ngõ xóm; tiếp tục thực hiện tốt các tuyến đường do nhân dân tự quản, phát động việc xây dựng các tuyến đường kiểu mẫu. Quản lý tài nguyên được tăng cường, đã thường xuyên tổ chức kiểm tra, xử lý các trường hợp vi phạm khai thác tài nguyên khoáng sản trái phép trên địa bàn; xử lý tịch thu 3.680 m3 cát, đã tổ chức bán đấu giá tài sản sung quỹ nhà nước 497 triệu đồng.

- Công tác quản lý trật tự xây dựng: Tăng cường công tác kiểm tra, xử lý các trường hợp vi phạm, ngăn chặn kịp thời các trường hợp khi mới phát sinh. Qua kiểm tra phát hiện 17 trường hợp xây dựng vi phạm; cụ thể: đã lập Biên bản vi phạm hành chính 09 trường hợp vi phạm (04 trường hợp đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, với tổng số tiền phạt là 100.000.000đ, 03 trường hợp UBND các xã, thị trấn đang tiến hành xử lý các bước tiếp theo, 02 trường hợp trình tỉnh xử phạt theo thẩm quyền); các trường hợp còn lại đang tiếp tục xử lý theo quy định.

5. Lĩnh vực văn hóa, xã hội:

a) Giáo dục và đào tạo: Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, học sinh các cấp trên địa bàn đều được nghỉ học để phòng chống dịch theo chỉ đạo chung của tỉnh, nên thời gian năm học 2019 – 2020 kéo dài, đến 15/7/2020 các trường đã tổng kết năm học và xét tốt nghiệp cho học sinh cuối cấp. Kết quả năm học, bậc học mầm non 100% trẻ được bán trú và khám sức khỏe định kỳ, trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi và nhẹ cân dưới 2%. Bậc tiểu học, 100% học sinh lớp 5 hoàn thành chương trình tiểu học; chất lượng các môn học/hoạt động giáo dục và năng lực, phẩm chất của học sinh được duy trì. Bậc THCS, tỷ lệ học sinh xếp loại học lực giỏi chiếm 23,32%, khá 41,1%, trung bình 33,57%, yếu 1,97%, kém 0,05%; tỷ lệ học sinh lớp 9 tốt nghiệp THCS đạt 99,5%.

Tập trung chỉ đạo ngành giáo dục chuẩn bị tốt các điều kiện, vệ sinh phong quang trường lớp để tổ chức khai giảng năm học mới 2020 – 2021; phối hợp với Trung tâm Y tế huyện và các trạm y tế xã, thị trấn tiến hành phun thuốc diệt khuẩn tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn; cài đặt ứng dụng Buluzone đối với giáo viên và học sinh có điện thoại thông minh, cung cấp khẩu trang, nước sát khuẩn cho các trường học để đảm bảo an tâm cho phụ huynh, an toàn cho học sinh và giáo viên khi tập trung học sinh đến trường. Tổ chức đánh giá công nhận trường học an toàn theo Bộ tiêu chí quy định tại Quyết định số 165/QĐ-BCĐ ngày 29/08/2020 của UBND tỉnh; kết quả, có 58/63 trường thực hiện tốt, 5/63 trường thực hiện khả. Số lượng huy động học sinh đầu năm học: Bậc Mầm non: 5.078/7.112 em, đạt 71,4%; bậc Tiểu học: 12.324/12.120 học sinh, đạt 101,7%; bậc THCS: 8.733/9.030 học sinh, đạt 96,7%.

Chỉ đạo, đôn đốc công tác kiểm định chất lượng giáo dục và trường đạt chuẩn quốc gia theo kế hoạch. Đến nay toàn huyện có 32/67 trường đạt chuẩn quốc gia, chiếm tỷ lệ 47,8%.

b) Lĩnh vực Nội vụ: Đã triển khai thực hiện các chương trình, đề án, kế hoạch quan trọng về sắp xếp, tổ chức bộ máy của các cơ quan, đơn vị, địa phương trên địa bàn huyện. Trong năm, đã tổ chức sáp nhập 10 trường học theo Đề án số 1220/ĐA-UBND ngày 17/4/2019 về sáp nhập các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Lộc giai đoạn 2019-2025; giảm 05 trường so với năm 2019; tổ chức thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 834/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế; chỉ đạo, hướng dẫn công tác sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy chính quyền và nhân sự xã Giang Hải sau sáp nhập. Công tác sắp xếp, sáp nhập thôn, tổ dân phố có quy mô nhỏ được địa phương thực hiện tốt; theo đó, đã tiến hành sáp nhập 05 thôn, tổ dân phố chưa đủ tiêu chuẩn theo quy định thuộc 05 xã, thị trấn (Lộc Vĩnh, Lộc Tiến, Lộc Thủy và thị trấn Phú Lộc), giảm 04 thôn, 01 tổ dân phố (từ 124 xuống còn 119 thôn, TDP); số người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố theo quy định giảm 39 người.

Công tác điều động, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, tinh giản biên chế CBCCVC được thực hiện theo đúng quy định quản lý nhà nước; việc đào tạo, bồi dưỡng CBCCVC luôn được quan tâm. Trong năm 2020, thực hiện bổ nhiệm mới 12 trường hợp, bổ nhiệm lại 37 trường hợp. Điều động và bổ nhiệm 13 trường hợp, điều động 38 trường hợp, giới thiệu bầu 02 Phó Chủ tịch UBND huyện, 02 Ủy viên UBND huyện nhiệm kỳ 2016-2021. Phê chuẩn kết quả miễn nhiệm 04 Chủ tịch, 04 Phó Chủ tịch UBND xã; bầu bổ sung 07 Chủ tịch, 09 Phó Chủ tịch UBND các xã, thị trấn nhiệm kỳ 2016 – 2021. Ban hành kế hoạch và chỉ đạo các xã, thị trấn  sắp xếp, bố trí đội ngũ cán bộ, công chức, không chuyên trách ở cấp xã, thôn, bản, tổ dân phố theo Nghị định 34/2019/NĐ-CP và Nghị quyết 06/2020/NQ-HĐND của HĐND tỉnh, đến nay về cơ bản, tổng số cán bộ công chức và những người hoạt động không chuyên trách cấp xã không vượt so với biên chế được giao. Đã tinh giản biên chế  21 trường hợp (cấp huyện: 03; xã, thị trấn: 12; trường học: 06); nghỉ hưu  54 trường hợp, thôi việc 04 trường hợp. Cử 1.108 lượt  CBCCVC tham gia các lớp đào tạo bồi dưỡng.

Đã tổ chức Hội nghị tuyên dương điển hình tiên tiến giai đoạn 2015-2020, nhân dịp này, UBND huyện đã khen thưởng 61 tập thể và 88 cá nhân điển hình tiên tiến; tổ chức Lễ truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” và trao tặng Huân chương Độc lập hạng ba cho 04 gia đình có con duy nhất là liệt sỹ và gia đình có nhiều liệt sỹ hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

c) Lĩnh vực Y tế: Chỉ đạo đẩy mạnh các hoạt động về phòng, chống dịch bệnh và vệ sinh an toàn thực phẩm tại các xã, thị trấn. Tăng cường giám sát và xử lý các ca bệnh sốt xuất huyết phát sinh trên địa bàn, lũy kế từ đầu năm đến nay có 48 ca mắc bệnh sốt xuất huyết; đã tiến hành điều tra dịch tễ tại khu vực bệnh nhân đang sinh sống, thau vét bọ gậy và phun hóa chất xử lý ổ dịch.

Tình hình phòng, chống dịch bệnh Covid-19: Tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn các biện pháp phòng tránh dịch bệnh Covid-19; chuẩn bị tốt các điều kiện để chủ động phòng, chống dịch. Tổ chức giám sát, theo dõi chặt chẽ và cách ly kịp thời các trường hợp đến và trở về từ thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam và các nước, khu vực có dịch và các trường hợp có tiếp xúc gần với người nhiễm và nghi nhiễm Covid-19. Bố trí cơ sở vật chất phục vụ việc phòng, chống dịch tại Trung tâm Y tế huyện gồm 30 giường bệnh, trong đó 05 giường dùng điều trị ca nhiễm F0, 25 giường cách ly F1; chuyển Bệnh viện Đa khoa Chân Mây thành bệnh viện để cách ly và điều trị các trường hợp nhiễm Covid-19.

Về việc giám sát, cách ly các trường hợp có yếu tố dịch tễ: Tổ chức cách ly y tế 148 trường hợp, trong đó cách ly tại Trung tâm Y tế huyện 75 trường hợp, tại Bệnh viện Đa khoa Chân Mây 73 trường hợp; đã có 146 trường hợp hoàn thành thời gian cách ly, còn 02 trường hợp đang trong thời gian được cách ly. Tổ chức các Chốt kiểm soát chặt chẽ người đến và đi vào địa bàn huyện, để ngăn chặn kịp thời những trường hợp nghi nhiễm có khả năng xảy ra; tiến hành đo thân nhiệt 22.218 người, thực hiện tờ khai y tế 22.218 trường hợp, 12.568 phương tiện giao thông được dừng để kiểm tra y tế.

d) Văn hóa, thông tin: Tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao phục vụ bà con nhân dân trong dịp tết và lễ hội Xuân. Thực hiện công tác tuyên truyền 90 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 03/02/1930-03/02/2020, 45 năm ngày giải phóng quê hương Phú Lộc và tỉnh Thừa Thiên Huế với nhiều hoạt động thiết thực; tuyên truyền công tác tuyển quân năm 2020, các thành tựu kinh tế - xã hội, đại hội Đảng các cấp, an toàn giao thông, cải cách hành chính, dịch vụ công trực tuyến,… trên sóng phát thanh và truyền hình, xe tuyên truyền lưu động, đã tạo ra hiệu ứng lan tỏa trong xã hội. Đặc biệt đã tăng cường tuyên truyền về phòng, chống dịch bệnh Covid – 19; hướng dẫn cách ly y tế tập trung, cách ly tại hộ gia đình để người dân nắm bắt thông tin và phối hợp tốt nhằm phòng, chống dịch bệnh có hiệu quả.

e) Thực hiện các chính sách an sinh xã hội, việc làm:

Thực hiện tốt các chính sách xã hội, nhất là chính sách cho các đối tượng bảo trợ xã hội, người có công; đã giải quyết 1.242 hồ sơ của các loại đối tượng (trong đó: 300 hồ sơ chính sách có công, 942 hồ sơ BTXH); đồng thời, đã tổ chức trao tặng 18.693 suất quà, với kinh phí 4.872.710.000 đồng[6], quà Tết được phân bổ kịp thời, đến tận tay đối tượng chính sách và người nghèo, bảo đảm không để thất thoát, thiếu đói trước và trong dịp Tết Nguyên đán Canh Tý – 2020.

Tập trung chỉ đạo công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm, đẩy mạnh hoạt động đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020; đến nay, có 80 lao động đã xuất cảnh (đạt 50% kế hoạch); tạo việc làm mới cho 2.000 người, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 65%. 

 Về thực hiện Nghị quyết 42/NQ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ và Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg ngày 24/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ: Đã chỉ đạo tổ chức rà soát, tổ chức thẩm định, công khai, cấp kinh phí chi trả hỗ trợ cho 21.329 người với tổng số tiền là 23.716.500.000 đồng; Trong đó, chi trả đợt 1 cho 4 nhóm đối tượng (người có công với cách mạng, bảo trợ xã hội, hộ nghèo và hộ cận nghèo) bị ảnh hưởng do dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn là 15.201 người với tổng kinh phí 17.809.500.000 đồng, chi trả đợt 2 cho những nhóm đối tượng lao động là 6.128 người với số tiền 5.907.000.000 đồng. Chỉ đạo các ngành phối hợp với Bảo hiểm xã hội huyện, tổ chức rà soát các doanh nghiệp bị ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, để gia hạn đóng các loại bảo hiểm theo chỉ đạo của Chính phủ.

6. Công tác cải cách hành chính, khoa học công nghệ:

a) Công tác cải cách hành chính:

a) Công tác cải cách hành chính: Tiếp tục tập trung chỉ đạo, hoàn thành các chỉ tiêu của 07 nhiệm vụ chính và 29 hoạt động CCHC, tiến tới xây dựng Chính quyền điện tử theo chỉ đạo của Tỉnh. Đã tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình tổng thể CCHC theo Nghị quyết 30c của Chính phủ; nhằm nâng cao chất lượng trong công tác CCHC đã tiến hành kiểm tra tại 08 đơn vị cấp xã, 04 phòng chuyên môn và 02 đơn vị sự nghiệp trực thuộc, đảm bảo trên 30% số cơ quan, đơn vị được kiểm tra trong năm, đạt 100% kế hoạch đề ra..

Công tác giải quyết TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông của các cơ quan chuyên môn tại Trung tâm Hành chính công huyện và Bộ phận TN&TKQ hiện đại cấp xã luôn được quan tâm chỉ đạo, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ. Trong năm 2020, tại cấp huyện đã tiếp nhận 14.883 hồ sơ, đã giải quyết 13.883 hồ sơ (đúng hẹn 13.328 hồ sơ, chiếm 96%). Tại cấp xã đã tiếp nhận 27.777 hồ sơ; đã giải quyết 26.949 hồ sơ (đúng hạn 25.275 hồ sơ, chiếm tỷ lệ 93.79%; trễ hạn 1.674 hồ sơ, chiếm tỷ lệ 6.21% chủ yếu do hồ sơ liên thông thuộc lĩnh vực hỗ trợ người dân do ảnh hưởng dịch Covid-19); kết quả khảo sát mức độ hài lòng của tổ chức, công dân đối CBCC tiếp nhận, giải quyết TTHC tại Trung tâm Hành chính công huyện đạt trên 95%.

Về hiện đại hóa hành chính: Công tác ứng dụng CNTT phục vụ chỉ đạo điều hành được triển khai thống nhất, đặc biệt là hệ thống Trang thông tin điều hành tác nghiệp; 100% các phòng ban, UBND cấp xã thực hiện gửi, nhận và sử dụng văn bản điện tử ký số; tiếp tục phát huy có hiệu quả hình thức họp trực tuyến cấp huyện - cấp xã nhằm giải quyết kịp thời nhiệm vụ, nhất là trong giai đoạn ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19; đã ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử theo Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 của Chính phủ và đẩy mạnh thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4. Tiếp tục duy trì áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2015 trong hoạt động của cơ quan, đơn vị đảm bảo theo yêu cầu, kế hoạch đề ra.

b) Về khoa học và công nghệ, tiếp tục thực hiện dự án "Ứng dụng khoa học và công nghệ xây dựng mô hình nuôi cá Chình thương phẩm trên sông Truồi, xã Lộc An”, hiện nay cá sinh trưởng tốt, tăng trọng trung bình từ 500-700 gram và phát triển chiều dài từ 40-60 cm. Nghiên cứu thực hiện Dự án xử lý ô nhiễm môi trường ở các bể nuôi cá lóc, cá trê tại xã Vinh Mỹ.

Về lĩnh vực tiêu chuẩn đo lường chất lượng: Phối hợp kiểm tra tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng trong kinh doanh xăng, dầu diezel, khí dầu mỏ hóa lỏng tại các doanh nghiệp kinh doanh; kiểm tra nhãn hàng hóa, điều kiện bảo quản hàng hóa, kiểm tra định lượng của hàng đóng gói sẵn, cân đối chứng, tình hình quản lý và sử dụng các phương tiện đo ở các chợ và các cơ sở kinh doanh vàng trên địa bàn huyện. Qua kiểm tra đã kịp thời phát hiện, thu giữ và tiêu hủy các sản phẩm hàng hóa kém chất lượng, hết hạn sử dụng, sản phẩm không nhãn mác, không rõ nguồn gốc, xuất xứ.

Về lĩnh vực sở hữu trí tuệ: Hướng dẫn các đơn vị, cá nhân có liên quan tiến hành các thủ tục đăng ký nhãn hiệu cho các sản phẩm địa phương. Hoàn thành 02 thuyết minh dự án đăng ký Nhãn hiệu tập thể “Cá Vẩu Cầu Hai” và Nhãn hiệu chứng nhận “Rượu vang vả Bạch Mã”.

7. Quốc phòng, an ninh, nội chính và giải quyết đơn thư khiếu nại:

Các cơ quan đơn vị, địa phương, lực lượng vũ trang thực hiện tốt việc xây dựng và triển khai kế hoạch trực bảo vệ cơ quan, đơn vị, chuẩn bị tốt các điều kiện và nắm bắt kịp thời những diễn biến xã hội, nên tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định; các hoạt động lễ hội đảm bảo theo quy định của pháp luật. Tổ chức tốt công tác giao nhận quân năm 2020 đảm bảo yêu cầu và chỉ tiêu được giao, gồm 184 thanh niên, đạt 100% chỉ tiêu đề ra.

Tuy vậy, hoạt động tội phạm, vi phạm pháp luật vẫn còn xảy ra, tính chất, thủ đoạn tinh vi và chuyên nghiệp hơn. Đã phát hiện 37 vụ tội phạm về trật tự xã hội, giảm 01 vụ so với cùng kỳ; tội phạm ma túy 08 vụ, tăng 03 vụ so với cùng kỳ, đối tượng phạm tội hoạt động manh động, liều lĩnh và có xu hướng tổ chức thành các băng, nhóm tội phạm, tang vật thu được với số lượng lớn.

An toàn giao thông: Từ đầu năm đến nay, tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 44 vụ, làm chết 28 người, bị thương 45 người, giảm cả 03 tiêu chí so với cùng kỳ (giảm 36 vụ, chết giảm 12 người, bị thương giảm 29 người); tai nạn giao thông đường sắt xảy ra 01 vụ, bị thương 01 người tại xã Lộc Trì; tai nạn giao thông đường thủy nội địa không xảy ra. Công tác tuần tra, kiểm soát giao thông được lực lượng công an thực hiện thường xuyên, qua tuần tra đã lập biên bản 4.585 trường hợp vi phạm, ra quyết định xử phạt 1.438.140.000 đồng; công an các xã, thị trấn đã lập biên bản 610 trường hợp vi phạm, ra quyết định xử phạt 180.455.000 đồng. Cháy xảy ra 04 vụ, không có thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản trị giá khoảng 200 triệu đồng; giảm 03 vụ so với cùng kỳ.

Về công tác tiếp công dân: Từ đầu năm đến nay, UBND huyện đã tiến hành hành 50 cuộc tiếp công dân; trong đó: có 29 cuộc tiếp công dân thường xuyên tại Ban Tiếp công dân huyện với 33 lượt ý kiến/43 công dân (trong đó: có 01 đoàn 04 người, 01 đoàn 06 người, 01 đoàn 05 người); 21 cuộc tiếp công dân định kỳ tại Ban Tiếp công dân huyện và UBND các xã, thị trấn gồm: Xuân Lộc, Lộc Trì, Lộc Bình, Lộc Tiến, Lộc Sơn, Lộc Thủy với 38 lượt ý kiến/38 lượt công dân.

Về giải quyết đơn thư: Từ đầu năm đến nay, UBND huyện đã tiếp nhận 363 đơn, tăng 11,6% so với cùng kỳ (gồm: khiếu nại: 13 đơn; tố cáo: 27 đơn; tranh chấp: 15 đơn; kiến nghị, phản ánh: 308 đơn); trong đó: đơn kỳ trước chuyển sang: 20 đơn (khiếu nại: 01 đơn; tố cáo: 01 đơn; tranh chấp: 02 đơn; kiến nghị, phản ánh: 16 đơn).

+ Đơn thuộc thẩm quyền 205 tăng 39,5% so với cùng kỳ (trong đó: khiếu nại: 03 đơn; tố cáo: 02 đơn; tranh chấp: 02 đơn; kiến nghị, phản ánh: 198 đơn). UBND huyện đã tiếp nhận và chỉ đạo các phòng, ban chuyên môn cấp huyện kiểm tra, xác minh để tham mưu giải quyết, trả lời đơn đảm bảo theo quy định. Đến nay, đã giải quyết: 179/205 đơn, đạt 87,3% (khiếu nại: 01 đơn; tố cáo: 01 đơn; kiến nghị, phản ánh: 177 đơn), còn lại 26 đơn (khiếu nại: 02 đơn; tố cáo: 01 đơn; tranh chấp: 02 đơn; kiến nghị, phản ánh: 21 đơn), UBND huyện chỉ đạo các cơ quan khẩn trương giải quyết.

+ Đơn không thuộc thẩm quyền 125 đơn, giảm 12,6% so với cùng kỳ (khiếu nại: 04 đơn; tố cáo: 13 đơn; tranh chấp: 10 đơn; kiến nghị, phản ánh: 98 đơn). UBND huyện đã chuyển đơn đến các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền để được giải quyết theo đúng quy định.

+ Đơn không đủ điều kiện xử lý: 33 đơn, giảm 5,8% so với cùng kỳ (trong đó: khiếu nại: 06 đơn, tố cáo: 12 đơn; tranh chấp: 03 đơn; kiến nghị, phản ánh: 12 đơn).

8. Tình hình hiệt hại và công tác khắc phục hậu quả do thiên tai:

Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, tình hình thời tiết cực đoan ngày càng diễn biến phức tạp. Năm 2020, do ảnh hưởng của các cơn bão số 5, 9, 13 và đợt mưa lũ từ ngày 06/10-17/10/2020, trên địa bàn huyện đã làm 01 chết, 12 người bị thương, 1.564 nhà ở bị sập, tốc mái, hư hỏng, 9.598 nhà bị ngập, 59 trường học bị ảnh hưởng; cùng nhiều diện tích cây trồng, vật nuôi, cơ sở hạ tầng bị thiệt hại, làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân; ước tổng thiệt hại khoảng 318,7 tỷ đồng. Ngay sau khi bão đi qua, UBND huyện đã tập trung chỉ đạo các ngành, các cấp, các địa phương tổ chức vận động nhân dân, đoàn thể, các tổ chức, doanh nghiệp… hỗ trợ khắc phục thiệt hại, động viên, thăm hỏi những gia đình có người bị thương, bị thiệt hại về nhà cửa, tài sản; vận động nhân dân khắc phục nhà cửa để sớm ổn định cuộc sống; tổ chức thu gom cây cối đổ ngã, dọn dẹp vệ sinh, xử lý môi trường, sửa chữa cơ sở hạ tầng, đồng thời chuẩn bị đầy đủ các điều kiện thiết yếu, vật tư, nguyên liệu, giống, phương tiện cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong thời gian tới. Hiện nay, mọi hoạt động đã từng bước trở lại bình thường.

Công tác tiếp nhận và hỗ trợ ứng phó mưa bão: UBND huyện đã tiếp nhận và phân bổ lương thực, hàng hóa, vật tư, trang thiết bị hỗ trợ khắc phục hậu quả do lũ lụt cho các địa phương từ nguồn Trung ương cấp gồm: 150 tấn gạo, 01 tấn lương khô, 200 áo phao, 100 phao tròn, 04 bè nhẹ cứu sinh, 01 nhà bạt 16,5m2 và 01 nhà bạt 24,75m2; từ nguồn Cục Cứu hộ - Cứu nạn, các tổ chức JICA và AHA xuất cấp gồm: 30 áo phao, 02 máy phát điện loại 5-7KVA, 05 máy lọc nước, 20 tấm trải nhựa, 50 bộ dụng cụ sửa chữa nhà, 60 bộ dụng cụ làm bếp.

Tính đến ngày 30/11/2020, UBND các xã, thị trấn, các cơ quan, đoàn thể trên địa bàn huyện vẫn tiếp tục tiếp nhận và hỗ trợ cho các hộ gia đình bị thiệt hại do mưa bão gây ra từ các nguồn hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước được 42.039 suất quà, trị giá 15.742.260.000 đồng.

II. MỘT SỐ KHÓ KHĂN, HẠN CHẾ.

1. Tình hình dịch bệnh Covid 19 diễn biến hết sức phức tạp, đã tác động lớn đến hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch, vận tải, xây dựng trên địa bàn, làm giảm doanh thu của các ngành này so với cùng kỳ năm trước; qua thống kê, rà soát đến tháng 6/2020 có 205 doanh nghiệp bị ảnh hưởng do dịch bệnh Covid 19 (trong đó 141 doanh nghiệp bị thiệt hại 70% doanh thu trở lên, 42 doanh nghiệp bị thiệt hại từ 30-70% doanh thu, 22 doanh nghiệp bị thiệt hại 30% doanh thu). Tổng doanh thu của doanh nghiệp ước bị thiệt hại khoảng 160 tỷ đồng.  

Bên cạnh đó, do thực hiện các giải pháp cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm, gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất theo Nghị định số 41/CP ngày 08/4/2020 của Chính phủ đã ảnh hưởng đến dự toán thu NSNN trong năm 2020. Đối với hộ kinh doanh cá thể khoán thuế chiếm 35,5% so dự toán thu ngoài quốc doanh, nhưng hầu hết là cơ sở nhỏ, không tập trung, nhiều ngành nghề phải ngừng, nghỉ kinh doanh do đại dịch Covid-19 gây ra, việc thực hiện nghĩa vụ thuế sẽ gặp khó khăn. Qua rà soát, có khoảng 987 hộ kinh doanh có khai thuế tạm ngừng kinh doanh, có 2.725 người lao động bị ngừng việc, 365 người lao động thất nghiệp đến nộp hồ sơ thất nghiệp, 257 người có quyết định trợ cấp thất nghiệp, 349 người lao động bị chấm dứt hợp đồng lao động nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp.

2. Trong sản xuất nông nghiệp, công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi còn chậm so với yêu cầu sản xuất. Thời tiết diễn biến phức tạp, vụ Đông Xuân lúa chuẩn bị thu hoạch có mưa lớn ngập úng trên diện rộng, trong đó có khoảng 589 ha bị đỗ ngã thiệt hại trên 30%, vụ Hè Thu hạn hán kéo dài làm năng suất giảm. Bệnh dịch tả lợn Châu Phi phát sinh trên địa bàn đã làm cho chăn nuôi lợn bị giảm, sau dịch giá cả tăng vọt gây khó khăn cho việc tái đàn.

Tình trạng lấn chiếm đất rừng vẫn chưa được xử lý dứt điểm; kinh tế tập thể chậm phát triển, còn nhiều HTX hoạt động kém hiệu quả, chưa thực sự hỗ trợ cho bà con nông dân trong quá trình phát triển sản xuất (kết quả đánh giá phân loại các HTX đến nay có: 12 đơn vị khá, tốt; 09 đơn vị trung bình; 10 đơn vị yếu kém; 04 đơn vị chưa đánh giá, gồm các HTX Lâm nghiệp bền vững); một số công trình thủy lợi bị hư hỏng, xuống cấp do mưa bão nhưng chưa có nguồn lực đầu tư làm ảnh hưởng đến quá trình tưới, tiêu phục vụ sản xuất.

3. Việc xây dựng kế hoạch triển khai Đề án quản lý khai thác mặt nước đầm Lập An chậm. Tình hình nuôi tôm chân trắng trái phép, nạn đánh bắt bằng xung điện, cơi nới nò sáo, sử dụng lừ có mắt lưới nhỏ so với quy định vẫn còn phổ biến

4. Công tác quản lý tài nguyên môi trường, trật tự xây dựng đô thị còn nhiều hạn chế; việc khai thác trái phép tài nguyên khoáng sản vẫn còn diễn ra, tình trạng vi phạm xây dựng trên đất không được phép xây dựng có chiều hướng gia tăng.

5. Công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo vẫn còn hạn chế, số lượng đơn thư phát sinh nhiều, nên việc giải quyết đơn thư kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân nhìn chung còn chậm. Bên cạnh đó, một số cơ quan được giao nhiệm vụ chủ trì tham mưu giải quyết đơn chưa quan tâm đúng mức, sự phối hợp giữa các đơn vị chưa được đồng bộ, thiếu kịp thời dẫn đến tiến độ, chất lượng giải quyết đơn chưa đảm bảo theo yêu cầu.

6. Chất lượng tham mưu của một số ngành, lĩnh vực mặc dù đã được cải thiện nhưng chưa đáp ứng yêu cầu, chưa phát huy được vai trò chủ trì, công tác phối hợp thực hiện nhiệm vụ giữa các đơn vị còn thấp, chưa bám sát nhiệm vụ được giao của ngành mình; chế độ thông tin, báo cáo một số đơn vị chưa nghiêm túc, chất lượng báo cáo chưa cao làm ảnh hưởng đến quá trình chỉ đạo, điều hành của UBND huyện.

7. Một số TTHC không quy định ngày giải quyết nên việc triển khai xây dựng quy trình và áp dụng thực hiện còn nhiều khó khăn, không thống nhất như: thủ tục Xác nhận thương binh, người hưởng chính sách như thương binh đối với người bị thương không thuộc lực lượng công an, quân đội trong chiến tranh từ ngày 31/12/1991 trở về trước không còn giấy tờ, thủ tục Bổ sung tình hình thân nhân trong hồ sơ liệt sĩ, thủ tục Giải quyết chế độ mai táng phí đối với thanh niên xung phong thời kỳ chống Pháp, thủ tục xét chuyển cán bộ, công chức cấp xã thành công chức cấp huyện trở lên.

 

Phần II

NHIỆM VỤ, KẾ HOẠCH NĂM 2021

 

I. MỤC TIÊU VÀ CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU

1. Mục tiêu.

Trong giai đoạn hiện nay, tình hình dịch bệnh Covid -19 đang còn diễn biến phức tạp, chưa xác định thời điểm kết thúc; để hạn chế thấp nhất ảnh hưởng do dịch Covid-19 gây ra trên địa bàn huyện, các ngành, các cấp cần tập trung thực hiện hiệu quả mục tiêu vừa phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân, vừa có các giải pháp ổn định sản xuất, thúc đẩy tiêu dùng, phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội; đảm bảo triển khai thực hiện có hiệu quả Kế hoạch 120-KH/HU, ngày 29/4/2020 của Huyện ủy về Uyệnthực hiện Chương trình hành động số 69-CTr/TU của Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết 54-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thừa Thiên Huế đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021.

2. Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu năm 2021:

1. Thu cân đối Ngân sách nhà nước                  : 184,690 tỷ đồng

2. Chi ngân sách Nhà nước trên địa bàn               : 586,594 tỷ đồng

3. Thu nhập bình quân đầu người                        : 62 triệu đồng

4. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội                            : 7.000 tỷ đồng

5. Sản lượng lương thực có hạt                            : 40,350 nghìn tấn

6. Sản lượng nuôi trồng và đánh bắt thủy sản       : 10.835 tấn

Trong đó: Sản lượng nuôi trồng                          : 3.190 tấn

                 Sản lượng đánh bắt thủy sản               : 7.645 tấn

7. Tổng lượt khách du lịch                                  : 845 nghìn lượt

         8. Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ xã hội   : 5.520 tỷ đồng

9. Tỷ lệ hộ nghèo                                                : 3,8%

10. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng        : 6,42%

11. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia                     : 58,5%

12. Tạo việc làm mới                                          : 1.540 người

13. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt                       : 66,0%

14. Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch                     : 96,5%

15. Số xã đạt chuẩn nông thôn mới                      : Tăng 01 xã

16. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân             : Đạt 96,5%

II. CÁC CHƯƠNG TRÌNH KTXH TRỌNG ĐIỂM

1. Chương trình phát triển dịch vụ - du lịch.

2. Chương trình xây dựng nông thôn mới và xây dựng mỗi xã một sản phẩm

3. Chương trình cải cách hành chính.

4. Chương trình phát triển Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô.

5. Chương trình phát triển đô thị.

III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC CHỦ YẾU

1. Tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19, khôi phục sản xuất:

a) Tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19, khôi phục sản xuất: Các cấp, các ngành và các địa phương triển khai thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Huyện ủy và UBND huyện về việc phòng, chống dịch Covid-19. Chú trọng việc tiếp tục hỗ trợ cho người lao động, hộ kinh doanh và doanh nghiệp theo Nghị quyết 42/NQ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ đảm bảo kịp thời, công khai, đúng đối tượng, không để xảy ra tình trạng trục lợi chính sách; triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 04/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid-19.

b) Thực hiện chính sách miễn, giảm, giãn thuế đối với một số lĩnh vực, đối tượng chịu thiệt hại nặng nề do đại dịch COVID-19 trong năm 2021 theo quy định; thực hiện đồng bộ, hiệu quả các cơ chế, chính sách phù hợp, nhất là về tài chính, tiền tệ, an sinh xã hội để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, người lao động, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa vượt qua khó khăn của đại dịch COVID-19, nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội.

c) Tập trung phát triển mạnh thị trường dịch vụ du lịch trên địa bàn, đặc biệt du lịch biển, suối, kích thích tiêu dùng nội địa thông qua nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, hạ giá thành cung ứng dịch vụ. Phát động phong trào tiết kiệm trong toàn hệ thống chính trị và xã hội để dồn nguồn lực cho phục hồi và phát triển kinh tế.

d) Đẩy mạnh giải ngân, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công, giải quyết vướng mắc trong thủ tục hành chính, đẩy nhanh công tác GPMB, góp phần sớm triển khai thực hiện các dự án quy mô lớn, quan trọng, có tác động lan toả đến phát triển kinh tế - xã hội các địa phương, vùng, tạo nguồn thu ngân sách; gắn trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan trong việc bảo đảm tiến độ thực hiện, giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công, GPMB.

đ) Tiếp tục các giải pháp để phát hiện sớm các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh viêm đường hô hấp cấp do virus Corona mới đi từ các nước hoặc các địa phương có ổ dịch về để cách ly kịp thời, không để lây lan tại địa phương. Phối hợp với các cơ quan chức năng, các ban, ngành liên quan thực hiện tốt trong công tác phòng, chống dịch bệnh Covid - 19.

2. Lĩnh vực kinh tế, tổng hợp:

a) Về công tác quy hoạch: Tiếp tục thực hiện Đồ án Điều chỉnh quy hoạch chung thị trấn Phú Lộc; Đồ án quy hoạch chi tiết trục vành đai La Sơn; nhiệm vụ quy hoạch chi tiết Khu dân cư dọc hai bên đường giao thông trục chính đô thị mới La Sơn; quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị mới La Sơn; phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch nông thôn mới xã Vinh Mỹ, quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Giang Hải; phê duyệt các đồ án quy hoạch chi tiết phân lô các khu dân cư, tái định cư để tạo quỹ đất đấu giá và bố trí tái định cư theo kế hoạch. Tiếp tục hoàn thành Đề án di dời các cơ sở tiểu thủ công nghiệp vào khu công nghiệp La Sơn.

b) Ngành dịch vụ: Phát triển lĩnh vực dịch vụ theo hướng đầu tư chiều sâu, nâng cao chất lượng, tạo bước đột phá để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, là động lực chính thúc đẩy các ngành, lĩnh vực khác cùng phát triển. Ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ có tiềm năng, lợi thế, đặc biệt chú trọng phát triển dịch vụ du lịch chất lượng cao.

Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, bảo đảm hành lang pháp lý cho mọi thành phần kinh tế đầu tư sản xuất kinh doanh, tạo sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường. Nghiên cứu mở rộng đầu tư các chợ đầu mối, đáp ứng tốt thị trường tại chỗ và hợp tác thương mại để cung ứng hàng hoá phục vụ nhân dân, đặc biệt là cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho các khu du lịch, khu công nghiệp, các đô thị, Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô...

Đẩy mạnh phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn. Tiếp tục xây dựng Khu du lịch quốc gia Lăng Cô - Cảnh Dương thành trung tâm du lịch tổng hợp chất lượng cao. Phát triển đa dạng các loại hình du lịch; gắn phát triển du lịch với bảo vệ cảnh quan môi trường, hệ sinh thái động thực vật, hệ sinh thái đầm phá và giữ gìn truyền thống văn hóa tốt đẹp của địa phương. Trong điều kiện tình hình dịch bệnh được kiểm soát tốt, phấn đấu lượt khách du lịch đạt khoảng từ 55-60% so với Nghị quyết giai đoạn 2021 – 2025, tăng khoảng 14% so với cùng kỳ.

c) Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: Phát triển công nghiệp - TTCN, tạo động lực quan trọng thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế. Chú trọng phát triển các ngành công nghiệp có tiềm năng như chế biến thủy, hải sản, nông sản, thực phẩm, chế biến gỗ, khai khoáng và sản xuất vật liệu xây dựng...

Phối hợp xúc tiến đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp Chân Mây, kêu gọi đầu tư khu công nghiệp La Sơn, cụm công nghiệp Vinh Hưng; tiếp tục nghiên cứu đầu tư hỗ trợ tạo vùng nguyên liệu cho dầu tràm Lộc Thủy nhằm thu hút lao động địa phương, góp phần nâng cao thu nhập, mức sống dân cư. Xây dựng một số thương hiệu cho các sản phẩm công nghiệp, làng nghề địa phương. Phát triển công nghiệp - TTCN gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo phát triển lâu dài, bền vững.

d) Về sản xuất nông nghiệp: Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, công nghệ sinh học vào sản xuất; sử dụng các giống cây trồng, vật nuôi mới, tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp; nâng cao hiệu quả sử dụng trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp. Khuyến khích, hỗ trợ các mô hình sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị, sản xuất sản phẩm nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ. Nghiên cứu cơ hội và chuyển đổi phương thức kinh doanh tiêu thụ, xuất khẩu các ngành nông, lâm, thủy sản chủ lực khi nhu cầu sử dụng các sản phẩm nông nghiệp tăng cao trong và ngoài nước.

Phát triển sản xuất lúa trên diện tích có điều kiện đầu tư thâm canh, chủ động tưới tiêu, ổn định diện tích gieo trồng lúa khoảng 6.700 ha. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Đề án cánh đồng mẫu lớn, Đề án chuyển đổi cơ cấu cây trồng đối với đất trồng lúa thiếu nước, Đề án cải tạo, nhân rộng cây dâu Truồi, bưởi da xanh. Đưa tỷ lệ giống lúa xác nhận vào sản xuất 100%, sản lượng lương thực có hạt đạt trên 40.000 tấn, trong đó lúa chất lượng cao chiếm khoảng 50%.

Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi trên cơ sở áp dụng kỹ thuật tiên tiến trong các khâu từ chuyển đổi giống vật nuôi, thức ăn, phương thức và kỹ thuật chăn nuôi, phòng trừ dịch bệnh. Liên kết thực hiện mô hình chăn nuôi theo hướng hữu cơ, chuyển phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ sang mô hình gia trại, trang trại, chăn nuôi công nghiệp, tăng hiệu quả sản xuất. Tiếp tục thực hiện đề án phát triển chăn nuôi lợn an toàn sinh học nhằm tái đàn, khắc phục dịch tả lợn Châu Phi.

Lâm nghiệp: Phát triển kinh tế rừng gắn với quản lý, bảo vệ tốt rừng đặc dụng, rừng sinh thái. Đẩy mạnh trồng rừng nguyên liệu, gắn với các các cơ sở công nghiệp chế biến gỗ, lâm sản xuất khẩu, đảm bảo diện tích khai thác và trồng mới rừng khoảng 2.000 – 2.200 ha/năm, diện tích trồng rừng gỗ lớn được cấp chứng chỉ FSC khoảng 300 ha (lũy kế diện tích rừng gỗ lớn đạt 1.850 ha). Tăng cường xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm, lấn chiếm đất rừng, phá rừng đi đôi với việc xây dựng, thực hiện các đề án chuyển đổi nghề nghiệp, sinh kế cho các đối tượng ven rừng.

Thủy sản: Tăng cường đánh bắt xa bờ, hoán đổi cơ cấu tàu thuyền, nghề nghiệp theo hướng khai thác các loại hải sản có giá trị kinh tế, gắn phát triển kinh tế với việc bảo vệ, giữ gìn biển đảo của Tổ quốc. Phát triển các dịch vụ hậu cần nghề cá: cung cấp nước đá, xăng dầu, ngư lưới cụ, giống, thức ăn; các cơ sở thu mua thủy sản, bảo quản, sơ chế và kết hợp với sửa chữa tàu thuyền... phục vụ tốt nghề khai thác thuỷ hải sản. Tăng cường công tác quản lý nuôi trồng và phòng chống dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản. Tuyên truyền, vận động ngư dân không sử dụng phương tiện hủy diệt trong khai thác thủy sản, không hoạt động các nghề bị cấm; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản.

Ổn định diện tích nuôi trồng thuỷ sản khoảng 1.300 ha, trong đó diện tích nuôi thuỷ sản nước lợ 800-900 ha; sản lượng thuỷ sản đạt khoảng 10.835 tấn, trong đó sản lượng khai thác 7.645 tấn, sản lượng nuôi trồng khoảng 3.190 tấn.

Huy động các nguồn lực để khắc phục đê, đập, cầu, cống bị thiệt hại sau mưa bão, tổ chức tu sửa, nạo vét kênh mương, chỉ đạo bà con nông dân tự khắc phục ruộng đất bị bồi lấp do mưa bão. Chuẩn bị tốt các điều kiện về giống, vật tư nông nghiệp nhằm cung ứng kịp thời cho người dân để tổ chức sản xuất năm 2021 đảm bảo theo lịch thời vụ.

đ) Củng cố phát triển kinh tế tập thể, xây dựng nông thôn mới: Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể; tập trung chỉ đạo thực hiện các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp. Xây dựng dự án, kế hoạch ưu tiên phát triển các HTX nông nghiệp có ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất và tiêu thụ nông sản; hỗ trợ các HTX xây dựng phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả; hỗ trợ liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm giữa HTX nông nghiệp với các doanh nghiệp có năng lực tiêu thụ nông sản. Tổ chức đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các HTX để kiện toàn, sáp nhập, giải thể các HTX làm ăn kém hiệu quả.

Tập trung chỉ đạo thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, nhất là ở các xã đã đạt chuẩn nông thôn mới để xây dựng tiêu chí nông thôn mới nâng cao và kiểu mẫu. Xây dựng kế hoạch huy động nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực trong nhân dân nhằm phấn đấu xã Xuân Lộc đạt tiêu chí nông thôn mới trong năm 2021. Tiếp tục rà soát, điều chỉnh quy hoạch nông thôn mới của các xã đảm bảo phù hợp; duy trì, nâng cao những tiêu chí đã đạt được; tập trung hoàn thành tiêu chí thu nhập và các tiêu chí đòi hỏi chi phí đầu tư thấp.

e) Đầu tư xây dựng, giải phóng mặt bằng

Trên cơ sở dự kiến nguồn lực đầu tư từ ngân sách, kế hoạch đầu tư công trung hạn 2021 - 2025, công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện theo các tiêu chí: Ưu tiên trả nợ vốn vay, trả nợ các công trình đã quyết toán và hoàn thành trong năm 2020, danh mục những công trình theo thứ tự ưu tiên trong kế hoạch đầu tư công trung hạn 2021 - 2025, những công trình đã phê duyệt đầu tư chưa bố trí vốn, những công trình hoàn thành các thủ tục chuẩn bị đầu tư theo quy định của Luật đầu tư công.

Tích cực phối hợp thực hiện tốt công tác giải phóng mặt bằng để triển khai xây dựng các công trình, dự án đầu tư trên địa bàn, chú trọng công tác đối thoại để vận động, thuyết phục các hộ gia đình, tổ chức và cá nhân chấp hành.

g) Công tác thu chi ngân sách: Phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ thu ngân sách nhằm đạt và vượt kế hoạch, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chi. Thực hiện các biện pháp tăng nguồn thu, trong đó, chú trọng các nguồn thu từ sản xuất kinh doanh, thu tiền sử dụng đất; đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư, cải cách thủ tục hành chính và các chính sách hỗ trợ, ưu đãi khác cho các tổ chức, cá nhân để thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, nhằm tạo đột phá trong công tác thu ngân sách; đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát chống thất thu, thực hành tiết kiệm chi, chống lãng phí, thất thoát. Quản lý chi tiêu hợp lý, đúng chế độ, xã hội hoá các hoạt động sự nghiệp.

h) Tăng cường quản lý tài nguyên môi trường; tổ chức kiểm tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các trường hợp lấn chiếm đất đai, khai thác khoáng sản trái phép; đặc biệt là các xã Khu II, dọc Quốc lộ 1A. Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thực hiện công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn huyện

3. Lĩnh vực văn hóa, xã hội:

a) Giáo dục và đào tạo: Tập trung đổi mới công tác quản lý, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và đổi mới công tác hành chính; đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học theo quy hoạch, đẩy mạnh xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia theo đúng lộ trình, sớm đưa giáo dục huyện Phú Lộc ngang tầm với các đơn vị bạn trong toàn tỉnh.

Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở từng cấp học, bậc học, đáp ứng với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng mũi nhọn và đại trà để duy trì và giữ vững thành tích đạt được trong thời gian qua. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo.

Chú trọng đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo điều kiện để đội ngũ giáo viên học tập nâng chuẩn đáp ứng theo yêu cầu. Phát triển các trường dạy nghề, các cơ sở đào tạo nghề, trung tâm học tập cộng đồng. Đa dạng hóa các ngành nghề đào tạo gắn với nhu cầu phát triển của các ngành, lĩnh vực trên địa bàn huyện. Tăng cường phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật, nâng cao hiểu biết, kinh nghiệm, kỹ năng tay nghề cho người lao động.

b) Lĩnh vực Nội vụ: Tập trung xây dựng kế hoạch triển khai công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu hội đồng nhân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Xây dựng Đề án tổ chức, sắp xếp lại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu quả; tiếp tục thực hiện Đề án sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp giáo dục giai đoạn 2021-2025.

Chú trọng chỉ đạo xây dựng Chương trình cải cách hành chính gắn với xây dựng Chính quyền điện tử giai đoạn 2021-2030.

c) Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân: Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh ở y tế tuyến xã, để chăm sóc sức khỏe ban đầu và giảm tải cho tuyến trên. Kết hợp giữa y học hiện đại với y học cổ truyền. Thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế; công tác khám chữa bệnh cho các đối tượng chính sách, người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi. Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn 6,42%; củng cố 100% trạm y tế đạt chuẩn quốc gia và tiếp tục phấn đấu đạt chuẩn mức 2. Cấp thẻ bảo hiểm y tế cho 100% các đối tượng chính sách, người nghèo.

Tăng cường công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, tổ chức tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm cho các đối tượng sản xuất, kinh doanh, chế biến thực phẩm; chỉ đạo thực hiện tốt tháng hành động vì chất lượng an toàn thực phẩm năm 2021.

Tiếp tục thực hiện giám sát các dịch bệnh khác trên địa bàn như dịch sốt xuất huyết, tay chân miệng, tả, lỵ, thương hàn…

d) Dân số, đời sống dân cư: Thực hiện tốt chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình, tiếp tục thực hiện có hiệu quả đề án "Giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên", ổn định tỷ lệ tăng dân số tự nhiên, góp phần nâng cao chất lượng dân số. Phấn đấu duy trì tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ở mức 1%, giảm sinh 0,2‰, tỷ lệ sinh con thứ 3 giảm 0,5%.

Thực hiện tốt chương trình giảm nghèo, nâng cao mức sống cho đồng bào dân tộc, vùng miền núi, ven biển, đầm phá. Thực hiện tốt các chính sách xã hội như chương trình xây dựng nhà ở cho người nghèo và các đối tượng chính sách, bố trí lại dân cư ra khỏi vùng ngập lụt, vùng sạt lở, ven sông, ven biển.

đ) Văn hóa thông tin, thể dục thể thao: Tiếp tục thực hiện tốt phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; xây dựng các thiết chế văn hoá cơ sở, vườn hoa cây xanh. Tổ chức các hoạt động văn hoá, lễ hội chào mừng các sự kiện lớn trong năm; kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội dân gian, sinh hoạt văn hoá cộng đồng.

Đẩy mạnh phong trào thể dục thể thao đến tận cơ sở; đa dạng loại hình và phương thức tổ chức thể dục thể thao gắn với các hoạt động văn hóa, du lịch, dịch vụ. Duy trì, phát triển hội thi tiếng hát hay trên địa bàn huyện; thành lập câu lạc bộ âm nhạc; tổ chức dạy bơi cho học sinh và các hoạt động bơi lội; phục hồi, phát triển phong trào bóng đá, thể dục thể thao từ cơ sở đến huyện.

Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, cổ động trực quan bằng nhiều hình thức qua hệ thống thông tin, truyền thanh, truyền hình trên địa bàn huyện, nhằm kịp thời đưa thông tin về đại hội Đảng lần thứ XIII, an toàn giao thông, cải cách hành chính, dịch vụ công trực tuyến, dịch bệnh Covid-19… đến tận cơ sở.

e) Lao động việc làm, Người có công và an sinh xã hội: Tạo việc làm mới cho hơn 1.540 lao động; nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 66%. Giảm tỷ lệ hộ nghèo còn 3,8% vào cuối năm 2021; nâng cao mức sống cho đồng bào dân tộc, vùng miền núi, ven biển, đầm phá.

Tập trung chỉ đạo thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo; thực hiện tốt công tác bình đẳng giới, bảo vệ và chăm sóc trẻ em, điều tra cung lao động, tích hợp chính sách giảm nghèo theo kế hoạch của UBND tỉnh; Chỉ đạo giải quyết việc làm cho người lao động thông qua các chương trình phát triển kinh tế, sàn giao dịch việc làm, xuất khẩu lao động. Tăng cường phối hợp với các đơn vị tham gia dạy nghề trên địa bàn nhằm đảm bảo chất lượng và đáp ứng nhu cầu tuyển dụng tổ chức chiêu sinh đào tạo nghề cho lao động ở các xã, thị trấn. Đẩy mạnh công tác tư vấn xuất khẩu lao động và công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm, phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu đưa từ 180 - 200 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Tăng cường phối hợp quản lý và sử dụng nguồn vốn vay từ ngân hàng chính sách xã hội, ưu tiên cho vay giải quyết việc làm đối với các hộ nghèo và hộ sản xuất kinh doanh.

Tuyên truyền, hướng dẫn nhằm giảm thiểu các thiệt hại do tai nạn, thiên tai, hạn chế tới mức thấp nhất đối tượng phải cứu trợ đột xuất. Nắm bắt tình hình và theo dõi chặt chẽ các đối tượng bị ảnh hưởng do dịch bệnh Covid - 19 để đề xuất chính sách hỗ trợ kịp thời giúp người dân vượt qua khó khăn, ổn định đời sống và sản xuất.

4. Lĩnh vực an ninh, quốc phòng và nội chính:

a) Tiếp tục duy trì nghiêm túc chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, nắm chắc tình hình, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nhất là trong các dịp lễ lớn của đất nước. Chỉ đạo tăng cường kiểm tra, đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn; đặc biệt là theo dõi, giám sát các đối tượng và các địa bàn có tệ nạn ma túy.

b) Tăng cường hoạt động kiểm tra và xử lý nghiêm tình hình xây dựng trái phép; tổ chức cưỡng chế các đối tượng không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Xây dựng kế hoạch và tổ chức ra quân, xử lý các trường hợp vi phạm lấn chiếm vỉa hè, lòng, lề đường trái quy định nhằm đảm bảo trật tự công cộng, trật tự an toàn đô thị.

c) Tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc kiểm tra, rà soát, giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài bảo đảm đúng thời hạn theo quy định của Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo. Các ngành, địa phương phối hợp chặt chẽ với các Đoàn thanh tra, đảm bảo chấn chỉnh, xử lý kịp thời các sai phạm, nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước trên các lĩnh vực.

d) Chỉ đạo đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hiện chế độ công vụ; nâng cao kỷ cương, kỷ luật hành chính; chấn chỉnh chế độ thông tin, báo cáo không kịp thời, chất lượng báo cáo không cao. Phấn đấu giữ vững thứ hạng cải cách hành chính của huyện.

đ) Chỉ đạo Ban an toàn giao thông huyện phối hợp với UBND các xã, thị trấn, tổ chức đoàn thể tiếp tục triển khai các giải pháp để nâng cao ý thức cho người tham gia giao thông như: Tổ chức tuyên truyền pháp luật về trật tự an toàn giao thông tại các xã, thị trấn; đưa các đối tượng vi phạm ra kiểm điểm trước dân; tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông. Tiếp tục thực hiện nghiêm túc Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2019 của Chính phủ về quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt.

 

 

Phương Thảo
       
CÁC TIN KHÁC
Xem theo ngày